TƯỞNG NHỚ CHÂN PHƯƠNG


KENNEDALE, Texas (NV) – Chân Phương từ giă cơi đời chiều ngày 6 Tháng Năm, 2020, tại nhà riêng của chàng, một căn nhà tuyệt đẹp, tọa lạc tại một ḥn đảo nhỏ thuộc thị trấn Hull, cách Boston, Massachusetts, chừng vài dặm theo đường chim bay.


Về hưu, chàng chọn mua căn nhà này, hàng ngày thù tạc một ḿnh với sách vở, gió biển, chân trời và những bài thơ.

“ngày tàn
rượu sắp cạn
lũ chim tha đi mớ vỡ vụn tâm trạng
sắc chiều loang
bệnh chứng thời gian
trước màn đêm và mấy cột thuyền
sự đơn độc kéo tôi lên
như lá cờ phất phơ
giữa hằng hà giấc mơ số hóa”
(Phiên Bản Của Tâm Trạng)

Bài thơ có nhiều h́nh ảnh rất quen thuộc: rượu, chim, cột thuyền, nắng tà, màn đêm và những h́nh ảnh không mấy quen thuộc: bệnh chứng thời gian, giấc mơ số hóa.

Đọc, ta cảm nhận một cái ǵ đang trôi, trôi qua trong sự đơn độc và buồn. Theo chàng, một bài thơ, dù không có vần, điệu nhịp nhàng, đọc nghe không êm tai, nhưng là một vũ điệu, “vũ điệu của lời.” Nó đ̣i hỏi một sự phối hợp hài ḥa giữa ngôn ngữ, nhịp điệu và cấu trúc.

Chàng phát biểu, “Nếu ví bài thơ như một bức tranh th́ mỗi câu là một hoa văn hài ḥa với các đường nét màu sắc, tất cả tổ hợp thành một toàn thể thẩm mỹ mới. Tạm gác một bên bí mật và động cơ của sáng tạo, thao tác cơ bản của người làm thơ gồm các việc: chọn chữ, đúc câu, kiến trúc cả bài. Nếu câu văn chỉ cần cú pháp, câu thơ c̣n cần thêm cú điệu. Không chỉ là phù thủy ngữ pháp (đảo ngữ, kiệm từ, ngắt câu, vắt ḍng…), thi nhân c̣n là nhạc sư của tiếng nói (thanh điệu, ngữ điệu, trường độ, trọng âm, tiết nhịp…). Trong kiến trúc cao cấp và phức hợp của mỗi bài thơ, chữ gọi chữ, câu gọi câu, ư gọi ư, tượng gọi tượng, tất cả mời nhau tham dự vào vũ điệu của lời.” (1)

Suốt đời, chàng đă sáng tác hàng trăm “vũ điệu của lời” như thế, rải rác đó đây trên những tạp chí văn chương, giấy cũng như mạng. Vũ điệu của chàng có nét riêng, khá riêng như thế, nên bút danh Chân Phương vẫn c̣n khá xa lạ với nhiều người. Không sao. Chàng ít quan tâm đến sự nổi tiếng mà chỉ t́m cách thể hiện chính ḿnh. Độc giả có thể t́m thấy tất cả sự nghiệp của chàng trên hai trang “Ăn Mày Văn Chương” và “Tri Âm Club.” (2)

***

Chàng ra đi, để lại một khoảng trống lớn trong ḷng bạn bè. Với riêng tôi, và với cả Nguyễn Trọng Khôi, một trong những người bạn rất thân và rất gần gũi, thù tạc văng lai với chàng trong gần cả 25 năm ở Boston, khoảng trống đó c̣n lớn hơn bội phần.

Sáng sớm 6 Tháng Năm, 2020, đọc mấy ḍng điện thư của Nguyễn Trọng Khôi báo tin chàng mất, tôi có cảm giác như đột nhiên bước hỏng chân nơi bậc thềm, ngă xuống, gượng đứng lên, bàng hoàng nh́n ánh nắng rơi bên ngoài cửa sổ hốt hoảng nḥe đi trong màn mưa. Biết sớm muộn, chàng cũng sẽ ra đi, nhưng sao mà vội thế. Buồn, buồn hết biết!

Chàng mang căn bệnh nan y cả 10 năm, ấy thế mà, chàng vẫn sống, vẫn vui chơi với bạn bè y như một người b́nh thường, rất b́nh thường. Đến nỗi măi đến vài năm trước đây, tôi mới biết chàng có bệnh.

C̣n nhớ, khi nâng cốc bia hơi trong tửu quán John Harvard’s Brewery & Ale House, Cambridge (gần Đại Học Harvard) nơi chúng tôi thường gặp gỡ hay tiếp đăi bạn bè từ xa đến, chàng nói, “Moi bị ung thư, đang chữa trị.” Tôi sửng sốt nh́n chàng, định hỏi thêm, nhưng chàng xua tay, lảng sang chuyện khác. Và từ đó về sau, không hề nghe chàng nói một lời nào về bệnh tật của ḿnh. Chàng vẫn họp mặt cùng bạn bè, khi th́ ở Worcester, khi th́ Boston, khi th́ Cambridge, khi th́ Hull, khi th́ Milton, vui vẻ, lạc quan.

Hồi Tháng Mười Hai, 2019, họp mặt tại nhà Nguyễn Trọng Khôi, trời lạnh, chàng vẫn lái xe chở anh Nguyễn Huệ Chi đến và như thói thường, vẫn mang theo chai rượu ngon. Lúc này, chàng gần như mất tiếng, giọng nói khàn khàn. Suốt bữa tiệc, chàng nói ít, không hát và vẫn nâng ly cùng bạn bè. Cuối tiệc, chàng lấy điện thoại cầm tay ra, mở cho mọi người nghe lại bản nhạc “Thập Giá và Mạn Đà La,” thơ của chàng, tôi phổ nhạc, Nguyễn Trọng Khôi đệm đàn và Nguyễn Ngọc Phong hát. Chia tay ra về, chàng c̣n hẹn gặp. Biết là chàng yếu lắm rồi, nhưng không ai ngờ đây là lần gặp cuối cùng của chàng với chúng tôi.

Khoảng hai tháng trước khi mất, tôi gửi cuốn sách mới (trong đó có bài tôi b́nh thơ chàng), chàng gọi điện thoại cho tôi, giọng vẫn khàn khàn, cám ơn tôi tặng sách và nhận xét tập sách tŕnh bày đẹp, chỉ than phiền cái h́nh b́a hơi tối. Hỏi về sức khỏe, chàng bảo bác sĩ nói chàng bị nhiễm một loại virus làm khan giọng, nhưng rồi sẽ hết.

Năm ngày trước khi mất, tôi gửi chàng xem một bài tôi mới viết nhân ngày 30 Tháng Tư, chàng gửi email cho tôi, chỉ có mấy chữ: “Thanks. CP.” Đây là email cuối cùng tôi nhận được từ chàng. Người con (trai) độc nhất của chàng, Mặc Trí, cho biết sức khỏe chàng đă suy yếu hẳn từ cuối Tháng Ba.

Những ngày tháng cuối cùng, biết ḿnh không qua khỏi, nhưng chàng không chịu vào bệnh viện trong thời gian đang có dịch bệnh, chỉ muốn ở nhà, đọc sách, chấp nhận số phận. Phút cuối cùng, chỉ có đứa con trai bên cạnh chàng. Vợ chàng c̣n ở Việt Nam, mẹ và em chàng ở Pháp, trong cơn đại dịch, ai ở chỗ nấy, không đi đâu được. Mặc Trí cho biết, “Ba con đi b́nh an, trong khung cảnh và môi trường ông yêu cầu,” qua một “text message” cháu gửi cho tôi vào ngày 7 Tháng Năm khi cháu chuẩn bị để nhà quàn tới mang chàng đi.

Chàng mê sách. Nhà chàng là một thư viện nhỏ, gồm toàn những sách thuộc dạng “cao cấp,” nhất là về thi ca. Đọc và suy gẫm nhiều nên chàng là một tay “connoisseur,” sành sỏi và hiểu tường tận rất nhiều vấn đề, từ hội họa, âm nhạc, thơ, văn, lịch sử cho đến chuyện du lịch, t́nh dục, rượu vang… Bất cứ đề tài nào, đă không nói th́ thôi, hễ nói là nói tường tận, chi li, cụ thể. Tôi có cảm giác chàng là một thứ tự điển sống. Hỏi đến là chàng kể vanh vách chuyện này chuyện nọ với những dẫn chứng cụ thể, rơ ràng.

Chàng mê rượu. Chàng chọn mua rượu ngon, cất trong kho, để dành năm này qua năm khác, hễ có dịp là mang ra đăi bạn, biếu bạn.

Chàng mê bạn, quư bạn. Chàng vẫn thường mời bạn về nhà chàng ngoài đảo, uống rượu, ngắm biển và bàn luận chuyện văn chương. Nhiều bạn đến từ rất xa, từ Việt Nam, Pháp, Canada, có khi ở lại chơi với chàng cả một, hai tuần. Những dịp như thế, chàng tự nấu nướng, phục vụ bạn bè từ đầu chí cuối theo một cung cách rất “Tây,” từ các món ăn, thức uống cho đến cách ăn và cách uống.

Chàng sáng tác nhạc. Và thích ca. Mỗi lần như thế, chàng vừa đàn guitar vừa hát, và đặc biệt, xen vào đó, chàng c̣n thổi harmonica phụ họa.

Cầu mong thơ sẽ đưa hương linh chàng về cơi tịch lặng b́nh an!

Tưởng niệm Chân Phương, xin giới thiệu với quư độc giả hai bài thơ của chàng.

Một, “Bài Ca Đất Khách,” cô đọng nỗi niềm của người di dân:

“mớ nhạc khí hư nát
rơi khắp nẻo kư ức

xuân hạ thu đông
bản giao hưởng lưu vong

giáng thăng
hai bàn tay trống

chỉ có trăng già
làm khán giả thủy chung

mỗi tháng một lần
diện trang phục mới

chờ nghe
khúc hát của trái tim bụi bặm”

Hai, “Thập Giá và Mạn Đà La” (3) làm theo thể thơ truyền thống, mô tả một cuộc t́nh đổ vỡ với ư thơ, tứ thơ, ngôn ngữ và khung cảnh rất lạ, hiếm khi t́m thấy ở bất cứ bài thơ nào cùng đề tài:

“từ ngày em ra đi
tôi về cưa khúc gỗ
đóng một cây thập giá
vác lên đồi săn chim

ngày lại rồi ngày qua
em ra đi biền biệt
tôi làm như không biết
măi săn chim đồi xa

những đêm trời mưa băo
những sáng sớm mù sa
tôi đ́u hiu trở giấc
hát nhỏ lời đơn ca

chim bay đi bay về
thu đông bao mùa qua
quay tṛn ṿng nhật nguyệt
buồn vui cũng phôi pha

hai bàn tay gỗ đá
hứng tro bụi nhạt nḥa
chim dần dà chết sạch
trên ngọn đồi tha ma

khi nào em trở lại
(ví dụ chơi ấy mà)
nếu em c̣n về lại
nhớ viếng mộ t́nh ta

đó là cây thập giá
treo vọng tưởng mù ḷa
đó là cây thập giá
găy giữa mạn đà la”

***

Chân Phương, tên thật là Phương Kiến Khánh, sinh năm 1951 tại Nam Vang, Cambodia. Hồi hương về Việt Nam Tháng Bảy, 1970, theo học Đại Học Văn Khoa Sài G̣n.

Định cư ở Hoa Kỳ vào giữa thập niên 1980, dạy học tại Boston, tốt nghiệp Cao Học Giáo Dục tại Lesley University, Cambridge.

Chân Phương làm thơ, viết truyện ngắn, biên khảo văn học và dịch thuật, đặc biệt dịch thuật thi ca hiện đại Âu-Mỹ.

Cộng tác với các tạp chí Việt Nam hải ngoại: Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Việt, Diễn Đàn (Paris), VietNam Forum (Đại Học Yale), Da Màu, Tiền Vệ, Lá Xanh và các tạp chí nước ngoài: Illuminations (Đại Học Charleston), Tribuna (Rumania).

Là một trong sáu thành viên chủ chốt của trang mạng “Ăn Mày Văn Chương” (Pháp) do Phan Huy Đường sáng lập.

Các thi phẩm đă xuất bản: “Chú Thích cho Những Ngày Câm Nín” (1989), “Bản Án cho Các Vĩ Cầm” (1992), “Nghĩa Đen” (1993), “Bổ Túc Lư Lịch cho Loài Di Dân” (1994), “Biển là Một Tờ Kinh” (1996), nhà xuất bản Tŕnh Bầy (do cố thi sĩ Diễm Châu chủ biên ở Strasbourg, Pháp) xuất bản.

View more latest threads same category: