Love Telling TRACY NGUYEN GỞI ĐẾN ALL ... ... TRACY NGUYEN GỞI ĐẾN ALL ... KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ VU LAN - MÙA HIẾU HẠNH 2014...

+ Reply to Thread
Results 1 to 1 of 1

Thread: THỔ NGỮ CỦA TIẾNG HUẾ

  1. #1
    Join Date
    May 2011
    Location
    Paris - France
    Tuổi
    33
    Posts
    4,170
    Thanks
    1,546
    Thanked 5,178 Times in 1,931 Posts

    **BOY** THỔ NGỮ CỦA TIẾNG HUẾ



    Theo VNCayDa

    Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản “tê mô răng rứa” như thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong thơ, nhạc và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu.

    Xin được đơn cử một câu rất Huế, một tâm sự kín đáo giữa hai o đang tuổi lấy chồng :

    "Tau noái với mi ri ń,en c̣n ở dôn, rứa mà bữa tê tề, en chộ tau phới ló ngoài cươi, en kêu tau vô, bồn tau lên chờn, cái ba... en đẩn. Mi quai chướng khôn?"


    Sở dĩ tâm sự kín đáo v́ đây là chuyện riêng của hai người, nói bằng thổ ngữ, nhưng ư nghĩa th́ như vầy: "Tao nói với mày như vầy, ảnh c̣n ở rể, vậy mà hôm kia ḱa, tao đang phơi lúa ngoài sân, ảnh kêu tao vào, bồng tao lên giường, rồi ảnh... Mày coi có kỳ không?".

    Chữ “đẩn,” ngoài ư nghĩa một trong bốn cái nhất của đời người trên c̣n có nghĩa như “ăn:” "Đẩn cho bưa rồi đi nghể." (Ăn cho no rồi đi ngắm gái). “Đẩn” cũng có nghĩa là “đánh đ̣n:”

    "Đẩn cho hắn một chặp!" (Đục cho hắn một hồi!) Chữ “đẩn” c̣n được phong dao Huế ghi lại:
    “Được mùa th́ chê cơm hẩm
    Mất mùa th́ đẩn cơm thiu.”

    Click here to enlarge

    Huế nói trại

    Nói trại là nói sai giọng, không đúng âm theo giọng viết, nói trại đôi khi cũng dùng trong trường hợp "nói khác đi, nói cách khác." Cách nói bị biến âm này rất phổ thông ở Huế, nhất là dân cư vùng biển. Nói trại làm cho âm thanh nặng hơn, khó hiểu hơn.

    - “Con tâu tắng ăn ngoài bụi te” tức là “con trâu trắng ăn ngoài bụi tre”.
    “Tời tong tẻo, nước tong veo” (Trời trong trẻo, nước trong veo).

    - Hầu hết những từ bắt đầu bằng "nh" đều được người Huế nói trại thành "gi" - già (nhà): “Giớ già giớ vợ ở già” (Nhớ nhà nhớ (luôn) vợ ở nhà!)

    - Những từ bắt đầu bằng "s" th́ nói trại ra thành "th": “Ăn thung mặc thướng” (Ăn sung mặc sướng), hoặc “Thầy g̣n” là Sài g̣n, hoặc nữa: “Noái năng tḥng phẳng” (Nói cho ṣng phẳng, rơ ràng).

    - Lối phát âm của người Huế không xác định được âm cuối là "n" hay "ng:" “Con thằng lằng chép miệng thở thang!” (Con thằn lằn chép miệng thở than!)

    - Những chữ có âm "o" thường nói trại ra "oa:" “Xa voài voại, noái khôn tới, với khôn được, ngó khôn chộ” (Xa ṿi vọi, nói không tới, với không được, nh́n không thấy!) Hoặc nữa: “Đi coai boái, thầy boái noái đi coai cái voài voai” (Đi coi bói, thầy bói nói đi coi cái ṿi voi).

    - Những chữ có âm "ô", người Huế thường nói trại thành âm "u:" “Thúi trong thúi ra” (Thối từ trong ra ngoài). “Túi lửa tắt đèn” (Tối lửa tắt đèn).

    - “Nậy rồi mà mũi răi tḥ ḷ!” (Lớn đầu mà mũi răi ḷng tḥng!) Chữ “tḥ ḷ” cũng đă góp mặt trong ca dao Huế:
    “Học tṛ tḥ ḷ mũi xanh
    Cầm cái bánh đúc chạy quanh nhà thầy!”

    - “Vô rú mà đốn săng” (Vào rừng mà đẵn gỗ). “Săng” cũng đă góp mặt trong mấy câu ḥ giă gạo với lối đối đáp rất "văn hóa" của Huế:

    Bên nữ:
    “Lẻ củi săng chẻ ra văng vỏ
    Bỏ vô lửa đỏ than lại thành than
    Trai nam nhân chàng mà đối đặng
    Thiếp xin kết nghĩa tào khang trọn đời.”

    Nghĩa là: Cây củi gỗ chẻ ra văng (Văn) vỏ (Vơ), thảy vô lửa th́ thành (Thành) than (Thang). Cái kẹt là ư lại thâm hậu, cao xa hơn nhiều: Văn, Vơ Thành, Thang là những vị vua thời Tam Đại, Tây Châu bên Tàu.

    Bên Nam:
    “Trâu ăn giữa vạc ló lỗ
    Đă ngụy chưa tề!
    Nam nhân chàng đă đối đặng
    Thiếp đă chịu theo chàng hay chưa?”

    Nghĩa là: Con trâu (Trâu) ăn giữa vạt lúa trổ (Lỗ), sao kỳ quá vậy? Ư ư, cũng điển tích như ai: Trâu, Lỗ, Ngụy, Tề là bốn nước thời Xuân thu Chiến Quốc cũng ở bên Tàu luôn. C̣n hai người có "tào khang" với nhau được hay không là chuyện… của họ

    - “En trên rầm thượng bổ xuống, nằm đơ cán cuốc, phải địu đi nhà thương!” (Anh ấy té trên rầm thượng té xuống, nằm cứng như cán cuốc, phải bồng, cơng đi nhà thương!) Đến đây th́ kẻ hèn này hơi kẹt. “Rầm thượng” là gác lửng, hay kho chứa bên dưới mái nhà? Ở Huế, rầm thượng không phải là chỗ ngủ nghỉ mà là nơi chứa những đồ gia dụng đáng giá nhưng phải cỡ nhỏ, v́ không có lối lên. Muốn lên rầm thượng, phải bắc thang; thân phụ tôi đă dùng rầm thượng để cất giữ những đồ cổ vừa phải, không qúy lắm. C̣n nếu qúy nữa th́ bỏ vào rương xe, một thứ tủ thấp đóng bằng gỗ thật dày, có nắp đậy, có luôn 4 bánh xe để đẩy v́ khiêng không nổi, nặng quá mà! Mặt bằng của rương xe là cái đi-văng, tối tối cứ trải chiếu nằm ngủ trên đó là khỏi lo trộm đạo.

    - “Nước mắt chặm hoài không khô, răng khổ ri ń trời!” (Nước mắt lau, thấm hoài không khô, sao khổ vậy nè trời!) Chữ “chặm” cũng đă lăng đăng trong mấy câu ḥ giă gạo, mà v́ năo nùng ai oán quá, nghe ḥ xong e phải… bỏ chày luôn:

    “Hai hàng nước mắt như mưa
    Cái khăn lau không ráo
    Cái áo chặm không khô
    Công anh đổ xuống ao hồ
    Qú thưa bẩm dạ thuở mô đến chừ!”

    “Mặt mày chạu bạu, ai chịu cho thấu!”

    (Mặt mày một… đống, ai chịu cho nổi!)

    Chữ “thấu” cũng có nghĩa là tới :
    “Kêu trời không thấu”
    (Kêu không tới trời)

    “Vô thấu trong Thầy g̣n”
    (Vô tuốt trong Sài g̣n).

    - “Mả cha cái thằng vô hậu (Tiên sư cái thằng đoảng). "Mả cha mi" là tiếng chửi, lời nhiếc mắng rất thông dụng ở Huế, đồng nghĩa với "mồ cha mày." Lối chửi này ít thông dụng ở những địa phương khác.

    - “Ăn trầu cơi thiếc” (Ăn trầu (để) trong hộp, quả bằng thiếc). Cái “cơi thiếc” cũng đă đi vào tục ngữ Huế: “Uống nước chè tàu, ăn trầu cơi thiếc.”

    - “Đi xe hay đi chưn xuống rứa?” (Đi xe hay đi bộ xuống đây vậy?)

    - “Túi thùi thui, có chộ chi mô!” (Tối quá, không thấy ǵ hết!)

    - “Rạt gáo rồi mà c̣n làm le làm gió!” (Cạn túi rồi mà c̣n làm bảnh, làm sang!)

    - “Ăn đoại cơm hến, uống đoại nước chè”
    (Ăn tô cơm hến, uống bát nước chè (xanh).

    Tục ngữ Huế :
    “Ăn lưng đoại, làm đoại lưng”
    (Ăn lưng bát cơm, làm muốn găy lưng!)

    Cơm hến, chẳng có chi cầu kỳ, nhưng nhiều mùi vị với lưng bát cơm nguội, rau sống, thân chuối non, rau mùi xắt nhuyễn, nước luộc hến chan vô, cho chút xíu ruốc, bỏ chút ít hến xào, thêm vài trái ớt, đúng với cái ít ỏi của Huế.

    - “Bữa ni đi kéo ghế” (Hôm nay đi ăn nhà hàng). Người Huế, nhất là ở thôn quê, thường dọn cơm trên phản, trên tấm ngựa. Không dọn trên bàn nên khỏi có cái vụ kéo cái ghế mà ngồi vào bàn. V́ thế, mỗi khi được dịp đi ăn ở quán, ở nhà hàng th́ gọi là đi kéo ghế...
    Huế làm đày làm láo, Huế nói chữ

    Vâng, người Huế, nhất là mấy o, mấy mệ th́ ưa ăn nói văn hoa chữ nghĩa, ưa đa sự đa lự, ưa… “làm đày làm láo,” tức ưa xảnh xẹ, ưa nói lư nói sự, nói dông nói dài. Thêm vào đó, phải nói cho hay, khi trầm khi bổng, lúc nhặt lúc khoan th́ "tụng" mới phê! Cái phong cách noái lặp đi lặp lại của người Huế vừa như là một cách nhấn mạnh, vừa có vẻ dạy đời lại vừa mang nhiều ư nghĩa khác, xa xôi hơn, thâm thúy hơn nữa.

    - Để mô tả cái sự lanh chanh lắm, xí xọn quá, lu bu lắm. Người Huế ít khi dùng chữ lắm hay chữ quá mà dùng điệp ngữ:
    “Cái con nớ, lanh cha lanh chanh!”

    Mấy mụ o giọn (nhọn) mồm, tức mấy bà chị chồng mỏng mép của Huế vẫn đôi khi chê em dâu: “Răng mà hắn vô phép vô tắc rứa hè!” (Sao mà nó vô phép quá vậy!”

    - Về màu sắc, người Huế thường có lối nói điệp ngữ để nhấn mạnh: xanh lè lè, đỏ ḷm ḷm, đen thùi thui, vàng khè khè, tím giắt giắt (tím ngắt).

    Bởi, “cà rịch cà tang rứa mà đoài làm giôn!” (Vậy đó, tà tà, lè phè vậy mà đ̣i làm rể!) C̣n nữa, để than trách ông trời sao mưa lâu quá, mấy o ngồi chỏ hỏ trong nhà ḍm ra, chép miệng than dài than ngắn: “Mưa chi mưa mưa thúi đất thúi đai!”

    Một bà mẹ tụng cô con gái, một bà chị cả “mô-ran” cô em thứ mà nghe cứ như là đang đọc một bài đồng dao với vần điệu, trầm bổng cũng là một trong những sinh hoạt dưới mái gia đ́nh:

    “Mi phải suy đi nghĩ lại cho kỹ! Mi coi, là con gái con lứa, đừng có đụng chăng hay chớ, cũng đừng lật đa lật đật, cũng đừng có mặt sa mày sỉa. Bọ mạ th́ quần ống cao ống thấp, tất ba tất bật để nuôi ḿnh. Tau thấy mi rứa, tau cũng rầu thúi ruột thúi gan!”

    Cái thông điệp cho thằng em trai th́:
    “Năm tể năm năm tê, mi c̣n lẩm đa lẩm đẩm, mũi răi tḥ ḷ, chừ mi nậy rồi, phải biết ăn biết noái, biết goái biết mở, vô khuôn vô phép . Chớ mai tê mốt nọ mi nên vai nên vế, nên vợ nên chồng, làm răng mi bông lông ba la hoài như cái đồ trôi sông lạc chợ cho được?!”

    Mấy ôn, khi giáo huấn con cháu, vẫn thường trích dẫn ca dao, tục ngữ để đệm thêm cho ư tưởng của ḿnh:

    “Đó, mi thấy đó. Ai ơi chớ phụ đèn chai, thắp trong Cần Chánh rạng ngoài Ngọ Môn. Mi đoảng, mi vô hậu, được bèo quên rá, được cá quên nơm; th́ mi lấy ai mà bầu bạn, lấy mô mà tri kỷ!”

    Lời kết

    Xa Huế đă lâu lắm rồi, từ ngày vừa biết tập tành đi nghễ mấy o Đồng Khánh, vừa ngấp nga ngấp nghé muốn vào (nhưng sợ bị chưởi) nhấm nháp thử ly cà phê đen sánh của cà phê Phấn, nơi mà các anh hùng trong thiên hạ vẫn tấp nập ra vào; và cũng vừa biết để dành tiền để mua những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn tại nhà sách Ưng Hạ. Phong cách Huế không ít th́ nhiều cũng đă phôi pha, thổ ngữ Huế cũng không mấy khi có dịp để dùng lại cho đỡ giớ, cho khỏi quên; thành ra cũng xao lăng đi nhiều.

    Trong cái xao lăng bỗng có ư nghĩ muốn t́m lại, noái lại tiếng noái của thời cũ rích cũ rang nhưng đằm thắm đó. Cho nên chỉ xin được ghi lại đây những ǵ c̣n nhớ mài mại, để gọi là khơi lại chút âm thanh của những ngày xưa cũ.

    View more latest threads same category:

    Chào mừng bạn đă đến HOÀI NIỆM MỘT THỜI...Chúc bạn thật vui khi sinh hoạt nơi đây... HanParis

    Click here to enlarge

  2. The Following User Says Thank You to HanParis For This Useful Post:

    THỤC ĐOAN (05-10-2012)

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts